Tại sao Việt Nam thiếu điện?

Chuyện thiếu điện nghiêm trọng và cắt điện “bất kỳ tử” của Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN cùng với những giải thích, xin lỗi liên tục của họ đã làm tuyệt đại bộ phận dư luận bất bình và vạch ra chuyện độc quyền của họ như là “nguyên nhân cho mọi nguyên nhân”.

 

 Thực ra, đọc kỹ lại những chỉ trích của dư luận nhằm vào EVN, ta có thể thấy rất nhiều trong số đó là thiếu thuyết phục và thiếu chính xác, và như vậy, rốt cuộc vấn đề tại sao thiếu điện đã không được giải thích thỏa đáng.

      Một ý kiến mới đây cho rằng: EVN không sai khi quy cho nguyên nhân thiếu điện là do: (1) tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện ở Việt Nam quá cao (15%/năm); (2) EVN không được phép tăng giá điện, mặc dù tốc độ tăng giá điện thấp xa so với tốc độ tăng giá cả trong thời gian qua. 
      Cả hai nguyên nhân này đều là điều thực tế, không cần bàn cãi. Nhưng điều cần nói là hai nguyên nhân này không phải là tất cả, và bản thân EVN còn có nhiều việc phải làm nhưng đã không làm tốt, ví dụ như việc cắt giảm chi phí, cắt giảm thất thoát, cắt giảm đầu tư tràn lan trong khi kêu thiếu vốn. Không đề cập đến vấn đề này, tác giả phê phán chuyện thiếu điện là do lỗi của Chính phủ vì đã không tạo ra một cơ chế thích hợp để phát triển ngành điện (ý nói là đã để cho EVN được độc quyền kinh doanh phân phối điện). Theo đó, Chính phủ cần phải tái cơ cấu lại thị trường điện.
      Nhưng tác giả lại chốt rằng: “Tuy nhiên, đây (ý nói “tái cơ cấu”) là con đường khó khăn và nhiều rủi ro. Có lẽ vì vậy mà Chính phủ đang muốn giữ nhịp độ cải cách chậm. Điều này đồng nghĩa với việc khan hiếm điện”. Thế thì Chính phủ đâu có sai nếu chọn con đường thận trọng, ít rủi ro, là điều được phép, trước mỗi một quyết định quan trọng liên quan đến cả một nền kinh tế? Vậy ai sai? Câu trả lời rút ra từ bài viết của tác giả này là: Không có ai!
      Một bài viết khác chỉ ra rằng nguyên nhân của tình trạng thiếu điện là sự độc quyền của EVN. Tuy nhiên, một mặt trực diện phê phán tình trạng nhà nước còn “hết sức nâng đỡ” EVN, để họ duy trì thế độc quyền như là nguyên nhân chính của tình trạng thiếu điện, mặt khác, bài viết này phân tích: (1) tỷ trọng lớn của EVN trong tổng công suất phát điện ở Việt Nam hầu như không thay đổi (94-97% trong thời kỳ 2000-2006), và lấy đây làm bằng chứng cho mức độ độc quyền “tuyệt đối” của EVN; (2) tổng công suất phát điện ở Việt Nam thiếu hụt đáng kể so với chỉ tiêu kế hoạch, và thêm rằng tuy: “Đã có các công ty trong nước và nước ngoài tham gia vào xây dựng các nhà máy điện nhưng công suất vẫn chưa thấm vào đâu so với của EVN”; (3) mức độ lãng phí và tổn thất điện năng lớn. 
      Ta hãy phân tích những chỉ trích này. Thứ nhất, việc EVN chiếm tỷ trọng lớn (và không thay đổi nhiều) trong tổng công suất phát điện của Việt Nam không phải là bằng chứng nói rằng EVN độc quyền. Chỉ có thể nói như thế khi ngoài EVN, Chính phủ hầu như không cho một nhà đầu tư nào đầu tư vào ngành phát điện nữa. Thế nhưng, cũng chính tác giả chỉ ra rằng đã có các công ty trong và ngoài nước tham gia vào phân khúc thị trường phát điện. Điều này tự thân nó cho biết, vị trí độc quyền của EVN đã chấm dứt ít nhất là trong thị trường phát điện. Còn chuyện công suất của những nhà máy phát điện ngoài EVN “chưa thấm vào đâu so với của EVN” thì chẳng có liên quan gì đến chuyện EVN có độc quyền hay không. Đơn giản vì ít nhất một lý do rằng thị trường phát điện có thể không phải là một thị trường béo bở nên không hấp dẫn được các nhà đầu tư ngoài EVN (phân tích thêm ở dưới đây).
      Thứ hai, thực tế, tổng công suất phát điện thiếu hụt đáng kể so với kế hoạch cũng không liên quan gì đến câu chuyện độc quyền của EVN, nếu xét đến 2 nguyên nhân khách quan dẫn đến thiếu điện mà ý kiến đầu tiên đã nêu. 
      Thứ ba, mức độ tổn thất và lãng phí mà tác giả này đề cập đến không phải là của EVN mà là của cả nền kinh tế! 
      Tác giả kết luận rằng: “Như thế có thể thấy nâng cao hiệu quả sử dụng điện của nền kinh tế (các hộ sử dụng điện lớn phải lưu tâm nâng cao hiệu suất sử dụng điện năng, EVN giảm vài phần trăm thất thoát) đồng thời với việc khẩn cấp hoàn tất các công trình sắp xong, tránh thất thoát trong đầu tư là những biện pháp cần chú trọng chứ không phải liên tục đòi đầu tư.” 
      Bản thân kết luận này cũng là rất “quá đáng” với EVN. EVN đâu có lỗi gì trong chuyện nền kinh tế Việt Nam có hiệu quả sử dụng điện thấp kém? Nói cách khác, tại sao hiệu quả sử dụng điện ở Việt Nam thấp kém? (Ta sẽ trả lời câu hỏi này “hộ” cho các tác giả trên ở đoạn sau). Quy kết rằng EVN phải “khẩn cấp hoàn tất các công trình sắp xong, tránh thất thoát trong đầu tư là những biện pháp cần chú trọng chứ không phải liên tục đòi đầu tư”, nhưng tác giả không đưa ra được một dòng nào về tại sao (đâu là lỗi của EVN để cho) các công trình “sắp xong” mà không xong được (đúng tiến độ), thất thoát là bao nhiêu, và nếu mọi việc tiến triển tốt đẹp (tức là các công trình “sắp xong” sẽ xong đúng tiến độ và thất thoát được cắt giảm) thì tổng công suất phát điện tăng lên được bao nhiêu và có đủ để thỏa mãn nhu cầu điện ở Việt Nam không v.v...  
      Chưa hết, tác giả còn nhấn mạnh: “Chừng nào còn độc quyền, chừng nào nhà nước chưa cứng tay với các tập đoàn mà còn hết sức nâng đỡ chúng, để chúng bành trướng sang địa ốc, ngân hàng tài chính và các lĩnh vực khác chứ không tập trung cao độ vào lĩnh vực kinh doanh cốt lõi của mình, thì nạn thiếu điện, cắt điện, và khát đầu tư vẫn là căn bệnh kinh niên không phương cứu chữa. Với các tập đoàn khác cũng vậy. Phương thuốc nằm chính ở tư duy quản lý của nhà nước chứ chẳng phải ở đâu khác”. 
      Nhưng, rất tiếc, qua phần phản biện nêu trên ta có thể thấy, các ý kiến rốt cuộc cũng không chỉ ra được điều cốt lõi tại sao, và ai chịu trách nhiệm cho: “nạn thiếu điện, cắt điện, và khát đầu tư vẫn là căn bệnh kinh niên không phương cứu chữa”! Các ý kiến cũng bỏ qua một điều là tại sao trước đây, vẫn doanh nghiệp ấy (thậm chí còn yếu ớt hơn so với bây giờ), vẫn cơ chế độc quyền ấy (thậm chí còn hà khắc hơn so với bây giờ), vẫn sự nuông chiều, dung dưỡng ấy của nhà nước (thậm chí còn “bao dung” hơn bây giờ nhiều) mà chuyện thiếu điện đã có lúc hầu như biến mất? 
      Vậy ai? Và tại sao?
      Ta hãy sử dụng luôn những luận điểm của 2 ý kiến trên để tìm câu trả lời. Thứ nhất, về chuyện tốc độ tăng trưởng nhu cầu điện năng của Việt Nam đã tăng quá nhanh, 15% và thậm chí được dự đoán tới 20%/năm, nguyên nhân chính và căn bản là giá điện ở Việt Nam được kìm giữ ở mức quá thấp. Giá điện rẻ đã kích thích cầu tiêu dùng điện tăng quá nhanh. Đây cũng là lý do giải thích phần nào tại sao hiệu quả sử dụng điện của Việt Nam quá thấp so với các nước khác, vì các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp không quan tâm nhiều đến hiệu quả tiêu thụ điện của thiết bị khi giá điện ở mức thấp tương đối.
      Cầu tăng mạnh buộc cung phải đuổi theo. Đến đây, bản thân mức giá bán điện do Chính phủ quy định thấp và sự độc quyền phân phối điện của EVN mới lên tiếng. Hai yếu tố này đã không khuyến khích các nhà đầu tư khác ngoài EVN đầu tư và phân khúc phát điện. Nói “ngoài EVN” vì chỉ có EVN là có trách nhiệm phải “ôm” phân khúc này và phát triển công suất theo yêu cầu của Chính phủ vì EVN là một doanh nghiệp nhà nước chủ chốt. Điều này giải thích tại sao công suất của các nhà máy phát điện ngoài EVN không tăng lên đáng kể. 
Với giá bán điện bị trói như vậy trong bối cảnh chi phí sản xuất điện tăng mạnh (tỷ trọng nhiệt điện tăng lên, đồng nghĩa với giá thành điện tăng lên, bên cạnh chi phí xây dựng và một loạt các chi phí khác đã đội lên do lạm phát cao), việc EVN kêu lỗ và thiếu vốn để phát triển công suất phát điện của họ là điều hoàn toàn có thể hiểu được và tin được.
      Tất nhiên, cũng như đã nói ở trên, về phần EVN, họ vẫn còn nhiều khả năng và có nghĩa vụ phải cắt giảm chi phí và tổn thất điện năng trong phạm vi trách nhiệm của mình (ví dụ tăng cường thanh tra tình trạng ăn cắp, gian lận tiêu thụ điện), và nếu thực hiện tốt được những việc này thì một tỷ trọng cầu không nhỏ về điện sẽ được cắt giảm. Vấn đề này lại dẫn đến chuyện “một mình một chợ” của EVN trong phân khúc phân phối và kinh doanh. Nếu có thêm một vài đối thủ nữa thì cho dù hiện nay EVN có tuyên bố là hết khả năng cắt giảm tổn thất, chắc chắn sau đó ta sẽ thấy họ sẽ cắt giảm được thêm nữa (cần nhấn mạnh rằng trong phân khúc phát điện đã có sự cạnh tranh).
      Tóm lại, nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng thiếu hụt điện ở Việt Nam là do giá bán điện đã bị kìm giữ ở mức thấp, đặc biệt so với giá cả các hàng hóa khác (lạm phát đã ở mức cao từ vài năm trở lại đây). Việc tự do hóa giá bán điện đến các chủ thể tiêu dùng điện, đi đôi với việc xóa bỏ độc quyền của EVN trong phân phối điện là chìa khóa để giải quyết tình trạng thiếu điện hiện nay và trong dài hạn. Thế nhưng, Chính phủ không phải là “mũ ni che tai” đối với vấn đề này, mà đã có lộ trình cho chuyện tái cơ cấu ngành điện (tức là xóa bỏ độc quyền của EVN), tuy sẽ tiến hành với thái độ thận trọng. Như vậy, vấn đề còn lại chỉ là thời gian chờ đợi để cho lộ trình này hoàn tất, bên cạnh chuyện tự do hóa giá bán điện. Nhưng vấn đề tự do hóa bán điện lại không phải đơn giản như vậy khi mà mục tiêu chống lạm phát được đặt lên hàng đầu ở Việt Nam hiện nay! 
      Kết cục, có lẽ cũng không quá ngôn khi nói Việt Nam thiếu điện (một phần) là vì tại lạm phát và chống lạm phát!

Ts Phan Minh Ngọc

 

 

Tags: Cup dien, thieu dien, cat dien, tai sao viet nam thieu dien, tại sao Việt Nam thiếu điện? cúp điện, thiếu điện, cắt điện

Người đăng: hoang93
Bài vết cùng chủ đề