Tìm hiểu về bệnh “tai xanh” ở lợn

Dịch bệnh “lợn tai xanh” hay còn gọi là hội chứng “rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn” là bệnh truyền nhiễm cấp tính đang bùng phát ở một số địa phương trên cả nước, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng. Để tăng thêm hiểu biết cho người dân, giảm bớt thiệt hại nặng nề do dịch bệnh gây ra, trung tâm khuyến nông giới thiệu một số nội dung cơ bản về dịch lợn “tai xanh”.
Ảnh minh họa
 
    Nguyên nhân gây bệnh: Do vi rút gây ra với đặc trưng gây viêm phổi, xảy thai ở lợn nái nên còn gọi là “hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản” ở lợn. Khi lợn bị mắc bệnh này thường kế phát bội nhiễm với các bệnh như: dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn, bệnh xoắn khuẩn, bệnh suyễn... Đây là những nguyên nhân chính gây chết nhiều lợn mắc bệnh.
 
    Đường truyền lây: Virus có trong dịch mũi, nước bọt, tinh dịch (trong giai đoạn nhiễm trùng máu), phân, nước tiểu và phát tán ra môi trường. Ở lợn mẹ mang trùng, virus có thể lây nhiễm cho bào thai và virus cũng được bài thải qua nước bọt và sữa. Lợn trưởng thành có thể bài thải virus trong vòng 14 ngày trong khi đó lợn con và lợn choai bài thải virus tới 1- 2 tháng.
 
    Virus có thể phát tán thông qua các hình thức: vận chuyển lợn mang trùng, theo gió (có thể đi xa tới 3 km), bụi, bọt nước, dụng cụ chăn nuôi và dụng cụ bảo hộ lao động nhiễm trùng, thụ tinh nhân tạo...
 
    Về triệu chứng lâm sàng: Triệu chứng bệnh thể hiện rất khác nhau tùy theo từng loại lợn. Cụ thể:
 
    Đối với lợn nái giai đoạn mang thai: Trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm virus, lợn biếng ăn từ 7-14 ngày, sốt 39 - 400C, xảy thai thường vào giai đoạn cuối. Tai chuyển màu xanh trong khoảng thời gian ngắn, lợn đẻ non. Về sau đình dục hoặc chậm động dục trở lại sau khi đẻ, ho và có dấu hiệu của viêm phổi.
 
    Đối với lợn nái giai đoạn đẻ và nuôi con: Biếng ăn, lười uống nước, mất sữa và viêm vú (triệu chứng điển hình), đẻ sớm khoảng 2-3 ngày, da biến màu, lờ đờ hoặc hôn mê, thai gỗ, lợn con chết ngay sau khi sinh, lợn con yếu, tai chuyển màu xanh và duy trì trong vài giờ. Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70% ở tuần thứ 3-4 sau khi xuất hiện triệu chứng. Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4-8 tháng trước khi trở lại bình thường. Về sau ảnh hưởng của bệnh là rất lớn như: làm giảm tỷ lệ sinh từ 10-15%, giảm số lượng con sống sót sau sinh, tăng lượng con chết khi sinh, lợn hậu bị có thể sinh sản kém, đẻ sớm, tăng tỷ lệ sảy thai, bỏ ăn giai đoạn sinh con.
 
    Đối với lợn con theo mẹ: Thể trạng gầy yếu, chân choãi ra, đi run rẩy, mắt có dử màu nâu, trên da có vết phồng rộp, tiêu chảy nhiều, giảm số lợn con sống sót, tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp.
 
    Đối với lợn con choai và lợn thịt: Chán ăn, ho nhẹ, lông xác xơ... tuy nhiên, ở một số đàn có thể không có triệu chứng. Ngoài ra, trong trường hợp ghép với bệnh khác có thể thấy viêm phổi lan tỏa cấp tính, hình thành nhiều ổ áp-xe, thể trạng gầy yếu, da xanh, tiêu chảy, ho nhẹ, hắt hơi, chảy nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ chết có thể tới 15%.
 
    Đối với lợn đực giống: Bỏ ăn, sốt, đờ đẫn hoặc hôn mê, giảm hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém và cho lợn con sinh ra nhỏ.
 
    Về bệnh tích: Do đặc điểm của bệnh là thường ghép với các bệnh khác cho nên bệnh không có triệu chứng điển hình. Đối với bệnh này, bệnh tích chủ yếu là viêm phổi và xảy thai đối với lợn nái sinh sản.
 
    Về điều trị: Hiện nay, vẫn chưa có thuốc đặc trị để điều trị bệnh này. Để hạn chế thiệt hại do bệnh, có thể sử dụng một số thuốc kháng sinh như: Tylosin, Enrofloxacine... để điều trị các bệnh kế phát và tăng cường sức đề kháng cho lợn bằng các loại thuốc trợ sức trợ lực (B.comlex, vitamin...) kết hợp các thuốc điều trị triệu chứng như: hạ sốt, chống ỉa chảy, ho, viêm phổi... Liệu trình điều trị: 5 - 7 ngày.
 
    Về phòng bệnh: Chủ động phòng bệnh bằng cách áp dụng các biện pháp an toàn sinh học như: chuồng trại phải bảo đảm thoáng mát, chuồng trại, các dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyển, khu vực ra vào luôn được vệ sinh sạch sẽ và tiêu độc khử trùng thường xuyên bằng các loại thuốc sát trùng, vôi bột...
Tăng cường chăm sóc nuôi, nuôi dưỡng tốt đàn lợn với khẩu phần ăn và nước uống đầy đủ, bảo đảm sạch sẽ. Chăn nuôi lợn với mật độ hợp lý, thực hiện biện pháp chăn nuôi “cùng vào, cùng ra” và để trống chuồng. Định kỳ tiêm phòng các bệnh nhằm tăng sức đề kháng cho đàn lợn.
 
    Một biện pháp quan trọng nữa là khi mua lợn giống phải bảo đảm khỏe mạnh, có nguồn gốc rõ ràng, phải tiến hành nuôi cách ly đàn lợn trước khi nhập đàn. Hạn chế tối đa khách tham quan, súc vật, chim, chuột ra vào chuồng trại.
 
    Về vắc xin phòng bệnh: Hiện nay, trên thị trường đã có một số loại vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn. Tuy nhiên, hiệu quả của việc sử dụng vắc xin chưa được như mong muốn. Do vậy, để hạn chế và giảm bớt thiệt hại cho đàn lợn quan trọng nhất vẫn là tiêm phòng các bệnh dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn, bệnh xoắn khuẩn, bệnh suyễn... cho đàn lợn.
 
(baothanhhoa.vn)

 

Người đăng: hoa bovai
Bài vết cùng chủ đề